Cơ chế xóa đói giảm nghèo của các tiểu ngành tre
Chương trình Tre Mê Kông đánh giá tác động giảm nghèo của chương trình qua việc nghiên cứu ba tiểu ngành: chế biến tre công nghiệp, tre thủ công mỹ nghệ và măng tre. Mỗi tiểu ngành này là một công cụ phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo.
Các cơ chế xóa đói giảm nghèo trong từng tiểu ngành Người nghèo có hai nguồn lực – đất và nhân công – thông qua đó để tạo thu nhập và giảm đói nghèo. Xóa đói giảm nghèo thông qua các tiểu ngành tre sẽ được thưc hiện bằng cách làm tăng:
-
Thu nhập từ nông nghiệp – đây là cơ chế quan trọng hơn. Có thể tăng khối lượng và đơn giá tre cho nông dân bán tre tại nguồn, và/hoặc;
-
Lao động trả lương – cơ chế ít quan trọng hơn. Tạo ra việc làm có lương hoặc tăng lương cho người lao động thông qua việc mở rộng diện tích trồng tre hoặc thành lập các cơ sở chế biến.
Mỗi tiểu ngành đều có những tiềm năng riêng liên quan tới các cơ chế tác động này.
Tre công nghiệp
Cơ chế tác động xóa đói giảm nghèo như sau:
-
Bán tre tại nguồn và tạo thu nhập
-
Bán tại nguồn. Lợi nhuận gộp năm 2009 tại Việt Nam là vào khoảng 350 đến 450 đô la Mỹ một hecta một năm tại vùng có năng suất cao nhất (vùng trồng luồng tại tỉnh Thanh Hóa). Tại đây, trung bình mỗi nông dân được sở hữu khoảng 0,6 hecta. Sản lượng lên tới 1,1 triệu tấn/năm đã được tiêu thụ hết, tác động tới cộng đồng hơn 450.000 người, nơi giá luồng tại nguồn là 35 đô la Mỹ một tấn vào giữa năm 2009.
-
Tiềm năng cho tác động quy mô lớn nhằm tăng giá tre tại nguồn, được thể hiện trong một tỷ lệ “làm giá” trong các sản phẩm giá trị cao, một khái niệm đã được chứng minh tại hạt Anji, Trung Quốc, nơi mà giá tre tại nguồn là 100 đô la Mỹ/tấn dẫn đến việc tăng thu nhập của người nông dân lên 1200 đô la Mỹ/hecta/năm, và 15% của nguyên liệu này được sử dụng để sản xuất các sản phẩm giá trị cao.
-
Việc bán tre tại nguồn chiếm tới 40-60% tổng đầu ra của tiểu ngành này trong các nước thuộc khu vực Mê Kông.
-
Quy mô tiềm năng của ngành tại các nước khu vực Mê Kông có thể đánh giá dựa trên diện tích vùng cung cấp hiện có với khoảng 2-3 triệu hecta rừng tre (Oxfam Hong Kong/IFC 2006). Hạt Anji có khoảng 350,000 hecta rừng tre. Quy mô tối thiểu để hỗ trợ một ngành công nghiệp cạnh tranh là 100.000 hecta, trong khi đó miền Bắc Việt Nam và tỉnh Hoa phan của Lào có tới 550.000 hecta rừng tre.
-
Tạo việc làm
-
Thuê lao động phổ thông
-
Lao động vận chuyển
-
Các công việc chế biến không đòi hỏi trình độ cao
-
Lao động nhận lương chiếm 5-10% tổng đầu ra của ngành.
Măng tre
Cơ chế tác động xóa đói giảm nghèo như sau:
-
Tạo thu nhập cho hộ nông dân
-
Bán măng tre tại nguồn. Lợi nhuận gộp cho 0.3 ha tre mang lại nguồn thu nhập hàng năm cao hơn đường chỉ số đói nghèo ở Việt nam cho một hộ 5 người.
-
70-80% sản lượng là thu nhập của người nông dân.
-
Quy mô tiềm năng đối với thị phần của ngành này tương đương với 10.000 hộ gia đình tại các nước khu vực Mê Kông
-
Tạo việc làm
-
Một số lượng nhỏ công việc chế biến không đòi hỏi kỹ thuật cao.
-
Lao động phổ thông theo mùa cho các hộ trồng măng.
Các sản phẩm tre thủ công mỹ nghệ
Cơ chế tác động xóa đói giảm nghèo như sau:
-
Tạo việc làm
-
Thợ thủ công hộ gia đình bao gồm i) hộ kinh doanh cá thể với mô hình sản xuất thủ công hoặc ii) nhà máy khoán sản phẩm với mô hình công nghiệp hóa.
-
60 đến 80% sản lượng là của người lao động.
-
Hiện tại có khoảng 300.000 đến 400.000 việc làm tại các nước khu vực Mê Kông.
-
Tại những vùng sản xuất thủ công mỹ nghệ của Lào, một phần lớn trong thu nhập của cả hộ gia đình là từ các sản phẩm thủ công, con số này là 65% tại các làng thủ công mỹ nghệ thuộc tỉnh Viên Chăn, 60% tại tỉnh Champasak (Tư vấn phát triển doanh nghiệp 2008, 2009).
-
Khả năng tăng trưởng của những cơ hội việc làm này không ổn định trong cả mô hình công nghiệp hoá (đòi hỏi lao động kỹ năng cao) và hộ thủ công
-
Tăng thu nhập tại nguồn cho hộ nông dân– cơ chế ít quan trọng hơn.
-
Việc bán tre nguyên liệu để làm đầu vào cho các sản phẩm thủ công chiếm ít hơn 10% tổng sản lượng đầu ra.
-
Chuỗi cung cấp hàng thủ công mỹ nghệ dựa vào một lượng nhỏ đầu vào của các loài tre từ các vùng nhỏ khác nhau.
Mở rộng tiềm năng xóa đói giảm nghèo
Tiềm năng xóa đói giảm nghèo của các cụm công nghiệp tre tại Việt Nam
Những ước tính về tác động tới sự nghèo đói nêu trên được tính toán dựa trên 95.000 hecta tre luồng. Khả năng tác động giảm đói nghèo thực tế của ngành công nghiệp tre nói chung có lẽ còn cao hơn ước tính trước đó về cây luồng nói riêng. Đó là do mối liên hệ giữa cây luồng – động lực phát triển của ngành – đối với các loài thương mại khác và tổng cung của ngành tre của cụm phía Bắc Việt Nam lên tới khoảng 800.000 ha. Trong 800.000 ha này, hơn nửa là các rừng tre thương mại thuần tuý.
Thêm vào đó, các cụm tre công nghiệp mới nổi ở miền nam Việt Nam đã mở ra những khu vực cung cấp mới, song song với các cụm công nghiệp tre phía Bắc đầy động lực và tiềm năng. Dựa trên kiến thức cơ bản về cơ sở nguồn lực, tiềm năng giảm đói nghèo ở những vùng khác cũng sẽ có quy mô tương tự như ở các cụm công nghiệp mới nổi đã thành công. Trong những năm tới, sự hiểu biết sâu sắc hơn về các loài tre nguyên liệu cho các cụm công nghiệp tre lớn ở cả hai miền sẽ giúp đưa ra những dự báo tốt hơn về tiền năng xóa đói giảm nghèo.
Sản phẩm tre ép khối và các công nghệ cho sản phẩm chất lượng cao kết hợp với tỷ lệ tận dụng tre cao (trên 80%) chỉ yêu cầu mô hình chuỗi cung cấp đơn giản sẽ tăng thêm giá trị cho mỗi cây tre và tăng sự cạnh tranh của sản phẩm. Những phát minh này sẽ mang lại những thay đổi lớn cho các cụm công nghiệp tre Việt Nam. Vì thế có thể thấy là các công nghệ và sản phẩm này sẽ đóng vai trò chủ chốt cho việc xoá đói giảm nghèo trong tương lai.
|